09:06 | 02/05/2018

Phục dựng lễ hội dân gian các dân tộc thiểu số: Cần kinh phí để bảo tồn bền vững

(LV) - Qua thời gian, nhiều lễ hội dân gian đã “biến mất” khỏi đời sống sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các DTTS.Trước thực trạng đó, Bộ VHTTDL đã chỉ đạo các Sở Văn hóa phối hợp với chính quyền địa phương phục dựng lại các lễ hội dân gian dân tộc đã và đang có nguy cơ mai một. Tuy nhiên, sau phục dựng, diễn trình, một số lễ hội vẫn chưa đủ sức “trụ” lại bền vững trong đời sống văn hóa cộng đồng.

>>> Lễ cúng hồn lúa của người Chơ Ro

Thất truyền lễ hội

Khoảng những năm 1980 trở về trước, những người con dân tộc Thái trong các bản làng miền Tây Nghệ An đều biết đến Lễ hội Xăng khan-một lễ hội tín ngưỡng tâm linh độc đáo của dân tộc mình. Lễ hội này docác thầy mo đứng ra tổ chức và làm chủ lễ với ý nghĩa tạ ơn các thầy mo tiền bối, tổ tiên đã dạy cho người làm mo cách bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Lễ hội Xăng khan cũng là dịp để người dân khắp bản trên, làng dưới trả ơn thầy mo đã chữa khỏi bệnh cho người thân trong gia đình.

Trong Lễ hội Xăng khan, cả phần lễ lẫn phần hội đều chứa đựng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá, độc đáo của cộng đồng người Thái. Đó là cây boọc mạy (cây hoa)- trung tâm hành lễ với những vật tượng trưng cho cuộc sống vạn vật như: chim, cá, ve sầu, rắn… Đó còn là những lễ vật ẩm thực dân tộc được dâng lên trong lễ cúng như: rượu trắng, rượu cần, gà luộc, thịt lợn, cá nướng, trầu cau… Đặc biệt là những áng sử thi, trường ca, truyền thuyết bằng văn vần kể về thuở khai lập bản mường, về những anh hùng dân tộc Thái, về thần linh, tổ tiên trên mường Trời…,được thầy mo sử dụng trong các bài cúng khi hành lễ. Ngoài ra, trong Lễ hội Xăng khan còn có âm thanh cồng chiêng, khắc luống; những bài hát mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc; những điệu múa lễ nghi độc đáo; những trò diễn tài thuật thú vị của các thầy mo như đi trên than lửa, giữ quả trứng trên mũi kiếm, lấy răng kẹp vào kiềng bếp đang nung đỏ mà không bị bỏng…

Lễ hội Xăng Khan trở thành Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia năm 2017 nhưng vẫn
Lễ hội Xăng Khan trở thành Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia năm 2017 nhưng vẫn "im ắng" trong đời sống văn hoá tâm linh của cộng đồng người Thái, huyện Quỳ Hợp.

Tuy nhiên, khoảng gần 30 năm nay, trong các bản làng người Thái, huyện Quỳ Hợp đã không còn thấy “bóng dáng” Xăng khan. Nghệ nhân ưu tú Sầm Văn Bình ở bản Yên Luốm, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp cho biết: “Khoảng năm 1978, tôi được tham dự một lễ Xăng khan do thầy mo Sầm Văn Tấn ở bản Yên Luốm tổ chức. Từ đó đến nay không thấy ông mo nào ở Quỳ Hợp tổ chức Xăng khan nữa.Bên các huyện lân cận như Quỳ Châu, Quế Phongcũng chỉ còn một vài ông mo tổ chức Xăng khan khi gia đình có điều kiện sắm sửa đồ lễ (vì làm Xăng khan khá tốn kém kinh phí). Năm 2017, Lễ hội Xăng khan của người Thái Nghệ An được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Tuy nhiên, sau Lễ công bố, Xăng khan vẫn chưa hồi sinh trở lại trong cộng đồng người Thái ở Quỳ Hợp, mặc dù toàn huyện vẫn còn 57 người làm nghề mo sống trong các bản, làng vùng sâu, vùng xa”.

Còn tại tỉnh Điện Biên, qua công tác khảo sát, kiểm kê, đánh giá thực trạng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của cộng đồng 20 dân tộc anh em trên địa bàn toàn tỉnh, Phòng Di sản văn hóa (Sở VHTTDL) cho biết, có hàng trăm lễ hội văn hóa, nghi lễ tâm linh, lễ nghi nông nghiệp… đã và đang được đồng bào duy trì,tổ chức trong phạm vi gia đình, dòng họ hoặc cộng đồng. Tuy nhiên, theo anh Thào A Dơ, cán bộ Phòng Nghiên cứu Sưu tầm (Bảo tàng tỉnh Điện Biên) chia sẻ: “Qua thời gian cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội, nhiều lễ hội dân gian, lễ nghi liên quan đến tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các DTTS đã bị mai một, thất truyền. Ví dụ như Lễ Nhảy lửa của người Dao, huyện Tùa Chùa; Lễ Cầu mùa của người Si La, huyện Mường Nhé; Lễ cưới của người Xạ Phang (Hoa), huyện Mường Chà…”

Thiếu kinh phí để bảo tồn bền vững

Theo thống kê của Cục Di sản Văn hóa (Bộ VHTTDL), trên cả nước hiện có 248 di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có 96 di sản văn hóa phi vật thể lễ hội truyền thống, 60 di sản nghệ thuật trình diễn dân gian, 59 di sản tập quán xã hội và tín ngưỡng... Trong số hàng trăm di sản lễ hội dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng, có nhiều lễ hội được phục dựng từ ngân sách Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn(2011-2015 và 2016-2020).

 

Đồng bào dân tộc Mông xã Nà Tấu, huyện Điện Biên múa khèn trong Tết Nào Pê Chầu
Đồng bào dân tộc Mông xã Nà Tấu, huyện Điện Biên múa khèn trong Tết Nào Pê Chầu.

Tại Tỉnh Điện Biên, từ năm 2011 đến nay, từ nguồn ngân sách Chương trình mục tiêu quốc gia, Sở VHTTDL đã giao cho Bảo tàng tỉnh triển khai thực hiện phục dựng, bảo tồn mỗi năm từ 1-2 lễ hội dân gian các DTTS, ưu tiên các dân tộc rất ít người. Anh Lê Đình Hải, cán bộ Phòng Nghiên cứu Sưu tầm (Bảo tàng tỉnh Điện Biên) cho biết: “Với kinh phí Nhà nước hỗ trợ phục dựng, bảo tồn mỗi di sản chỉ từ 100 triệu đến 200 triệu đồng,mỗi năm, Bảo tàng tỉnh cố gắng lắm cũng chỉ tổ chức phục dựng, diễn trình được 1-2 lễ hội. Nhiều lễ hội sau khi phục dựng, diễn trình, hoàn thiện hồ sơ khoa học xongthì “chìm xuồng”, chưa phát huy được giá trị trong đời sống cộng đồng”.

 

Đồng bào Khơ Mú, xã Ảng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên biểu diễn dân vũ trong lễ hội Cầu mưa
Đồng bào Khơ Mú, xã Ảng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên biểu diễn dân vũ trong lễ hội Cầu mưa.

Có nhiều nguyên nhân, song vấn đề “thiếu kinh phí bảo tồn bền vững” vẫn là yếu tố then chốt của vấn đề. Theo chị Lê Thị Lan Anh, cán bộ Phòng Di sản (Sở VHTTDL tỉnh Điện Biên): “Để các lễ hội, lễ nghi dân giancác DTTS thực sự hồi sinh, bám rễ sâu bền vào đời sống sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, Trung ương và chính quyền địa phương cần có một khoản kinh phí dành riêng để hỗ trợ đồng bào phục dựng lại lễ hội gắn với những sự kiện văn hóa-chính trị tại địa phương. Ví dụ hỗ trợ đồng bào mua đạo cụ, trang phục dân tộc để tiến hành nghi lễ; hỗ trợ các nghệ nhân cao tuổi truyền dạy cho lớp trẻ các nghi thức hành lễ, các điệu múa, bài hát dân gian có sử dụng trong lễ hội…”.

Bên cạnh đó, các địa phương cũng cần ưu tiên phát triển du lịch gắn với lễ hội. Chính quyền các cấp, các bộ, ngành liên quan hỗ trợ xây dựng các dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và hiểu biết của đồng bào về lễ hội dân gian, từ đó thu hút cả cộng đồng tham gia bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội.

Ngọc Ánh

Ý kiến bạn đọc
Họ và tên  
Email    
Tiêu đề  


Captcha
Mã xác nhận  
Phản hồi  
 Off  Telex  VNI  VIQR
Tài liệu đính kèm: (.gif, .jpg, .png, .jpeg, .doc, .docx, .xls, .xlsx, .zip, .rar)
 
Dấu ấn 10 năm thực hiện Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Chiến thắng 30/4 - Bản hùng ca của dân tộc Việt Nam/ Phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam tại " Ngôi nhà chung"/ Làng Việt 9 năm đồng hành cùng văn hóa dân tộc
Cơ hội đột phát trong hợp tác đầu tư và triển khai các hoạt động của Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam/Bỏ đốt vàng mã, khơi dậy giá trị văn hóa tốt đẹp/Người giữ hồn nhạc cụ tre truyền thống Ê đê
Xuân Mậu Tuất 2018
Tuần " Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam" - dư âm còn vọng/ Công tác Hướng dẫn tham quan góp phần phát huy hiệu quả Khu các làng dân tộc Việt Nam/ Sắc phục của người Cống trên rẻo cao.
Loading
Langvietonline.vn
1 2 3 4 5
Review This Site